THIÊN- ĐỊA- NHÂN TAM ĐẠO LUẬN

Trần Thế Hiệp. Email: tranthehiep@proton.me

Mục lục

Phần I - Ba Ngôi và cấu trúc tư duy

1) Sự phổ quát của ba Ngôi và các bộ-ba

2) Luận giải siêu hình về ba Ngôi

3) Cấu trúc tam nguyên và ba loại tư duy

Phần II – Tam đạo luận

4) Cấu trúc tư duy và Tam đạo

5) Luận Tam đạo

Phần III - Tổng kết

Lời nói đầu

Trong tôn giáo, người ta thường bắt gặp một hình mẫu về Chúa ba Ngôi, hoặc ba vị Thần tối cao. Trong các hệ thống triết học và tư tưởng, lại có những bộ tam nguyên mang nhiều ý nghĩa biểu tượng khác nhau. Đã có những nỗ lực giải đáp vấn đề lớn này từ các nhà tôn giáo, huyền bí, triết gia… trong suốt hàng ngàn năm qua. H. P. Blavatsky tuyên bố các tôn giáo đều xuất phát từ một nguồn minh triết tâm linh duy nhất. Carl Jung thì phát triển học thuyết về các nguyên mẫu trong vô thức tập thể. Bài viết này sử dụng một cách tiếp cận khác, với tư duy hình học trực quan và động lực học siêu hình, từ đó đề ra một cấu trúc nền chung, ẩn bên dưới các biểu tượng ba Ngôi lẫn các bộ-ba phổ biến. Đây là cấu trúc tư duy 3 tầng với 3 câu hỏi cốt lõi nhất mà con người suy tư về thực tại. Từ cấu trúc nền này, bài viết đưa ra mô hình ‘Tam đạo’, với 3 trục cơ bản, có thể dùng để luận giải gần như toàn bộ các hiện tượng xã hội lẫn sự phát triển của nền văn minh nhân loại. Điều này mở ra vô số khả năng ứng dụng trong khắp các lĩnh vực thuộc đời sống con người, ở nhiều cấp độ khác nhau.


 

PHẦN I – BA NGÔI VÀ CẤU TRÚC TƯ DUY

1. Sự phổ quát của ba Ngôi và các bộ-ba:

Trong tôn giáo, người ta thường bắt gặp một hình mẫu về 3 vị thần tối cao:

·    Trong Công Giáo, người ta nói rằng Thượng Đế hay Chúa có 3 ngôi: Chúa-cha (1), Chúa-con (2), Chúa-thánh-thần (3). Tuy 3 mà 1, gọi là Tam vị nhất thể (Trinity). 

·    Ấn Độ giáo có Trimurti: Shiva (1), Vishnu (2), Brahma (3).

·    Ai Cập cổ có: Osiris (1), Isis (2), Horus (3); hay trước đó là Amun- Ra- Ptah.

·    Thần học Do Thái có Supernal triangle: Kether- Chokmah - Binah.

·    Đạo giáo có Tam Thanh: Ngọc Thanh (1), Thượng Thanh (2), Thái Thanh (3).

·   

Bên cạnh các bộ ba tối cao, còn có những bộ tam nguyên khác mang tính biểu tượng khác nhau:

·    Hy Lạp cổ đại có Transcendentals (siêu việt): Chân (1), Thiện (2), Mỹ (3).

·    Trung Hoa cổ đại có Tam hoàng: Thiên hoàng - Địa hoàng - Nhân hoàng hay Phục Hy - Nữ Oa - Thần Nông.

·    Dịch học có Tam tài: Thiên– Địa– Nhân.

·    Trời có Nhật – Nguyệt – Tinh.

·    Người có Thần – Khí – Tinh.

·    Cơ thể người, lại có Tam đan điền: Thượng đan-điền (1) ở đầu, Trung đan-điền (2) ở ngực, Hạ đan-điền (3) ở dưới rốn.

·    Phật giáo có Tây phương tam Thánh: A Di Đà (1), Quán Thế Âm (2), Đại Thế Chí (3); Tam bảo: Phật – Pháp – Tăng…

·   

Có thể nói: các Bộ-ba phổ biến một cách đáng kinh ngạc trong nhiều nền văn minh và tôn giáo trong lịch sử, với những tầng ý nghĩa và tính biểu tượng khác nhau. Bài viết này đưa ra một cách tiếp cận mới, không dựa trên diễn giải tôn giáo, trong đó các tam nguyên có thể được xem như sự phản ánh của ba tầng ý niệm mang tính nền tảng: Bản thể, Quan hệ Hiện tượng.

 

2. Luận giải siêu hình về ba Ngôi:

Mục này sẽ trình bày một lớp lý giải siêu hình (metaphysical) về ba Ngôi của Thượng Đế, dưới các góc nhìn hình học, tâm lý học và Dịch học. Từ đây, bài viết đề ra một khung diễn giải hợp nhất cho các câu hỏi lớn:

·    Tại sao Thượng Đế có ba Ngôi? Tại sao ba Ngôi lại có những đặc tính như vậy?

·    Tại sao không chỉ trong tôn giáo, huyền bí học có ba Ngôi, mà còn có nhiều tam nguyên trong các lĩnh vực khác?

2.1. Vấn đề 1: “Tại sao Thượng Đế có ba Ngôi?”

Trước hết, ta sẽ xem xét vấn đề bằng tư duy hình học:

·    Nhiều trường phái siêu hình học cho rằng vào lúc ban sơ, khi chưa có vũ trụ, Thượng Đế là một Hiện hữu duy nhất. Thực tại này được hình dung như 1 điểm. Nhưng một điểm lý tưởng thì không chiếm không gian. Do đó, lúc này, Thực tại là 1 điểm duy nhất trong không gian chưa tồn tại. Đây là hình dung về Ngôi 1.

·    Từ 1 điểm tuyệt đối mà muốn biểu lộ ra thêm, thì bước đầu tiên chính là tự phân cực tạo thành 2 nửa. Ta hình dung: từ 1 dấu chấm, kéo ra, thì sẽ tạo thành 1 đoạn thẳng (hay đường thẳng). Đây là hình dung của Ngôi 2 trong tiến trình biểu lộ. Một đoạn thẳng lý tưởng dù có kéo dài đến vô hạn thành đường thẳng lý tưởng, thì nó cũng chưa chiếm không gian biểu lộ (không gian trực quan). Giải thích một cách đơn giản: Một tam giác lý tưởng có thể tô thêm màu sắc, nhưng một điểm hay đường thẳng lý tưởng thì không thể.

·    Vì vậy, để thực tại có thể biểu lộ như một thực thể đa chiều, nhất định phải xuất hiện thêm một Ngôi 3, vượt ra khỏi ‘đường thẳng phân cực’ của Ngôi 2. Ta hình dung: với 3 điểm không thẳng hàng, không gian biểu lộ bắt đầu hình thành. Lúc này, thực tại được biểu lộ lần đầu tiên như là một hình dạng có kích thước không gian. Và tam giác, có 3 đỉnh 3 cạnh, có thể xem như một hình dạng hữu hình tối giản có thể quan sát được, khác với điểm và đường thẳng, vốn là những khái niệm trừu tượng phi kích thước. Nói cách khác, 3 có thể được xem như ngưỡng bắt đầu của thế giới hiện tượng.

·    Như vậy, nếu ta tin vào thuyết biểu lộ rằng toàn bộ thế giới này là sự biểu lộ của Thượng Đế từ 1 điểm duy nhất, thì tư duy hình học tối giản có thể hình dung về quá trình biểu lộ như sau: từ 1 điểm thành 1 đoạn thẳng, từ đoạn thẳng thành 1 tam giác… Khi đó, Tam giác chính là hình dạng trực quan tối giản đầu tiên mà Thượng Đế biểu lộ!

·    Câu nói được cho là của Plato, “God always geometrizes” – “Thượng Đế luôn luôn dùng hình học”, có lẽ cũng là ý này chăng?

Nếu cách hiểu trên là đúng, thì:

·    Ba Ngôi không phải là ngẫu nhiên hay áp đặt, mà là hệ quả của những nguyên lý siêu hình của sự biểu lộ (manifestation). Khi có đủ 3 Ngôi/ 3 điểm, ta mới bắt đầu có thực tại được biểu lộ. Nói cách khác, thế giới hiện tượng bắt đầu từ con số 3 của ‘tam nguyên’ (“Tam sinh vạn vật”); trước 3, nhất nguyên và nhị nguyên đều thuộc về thế giới ý niệm.

·    Và như vậy, ‘tam nguyên’ cấu trúc tối giản của một thực thể biểu lộ.

Góc nhìn động lực học siêu hình về tính vận động của tam giác:

Ta xem xét một mô hình đơn giản:

·    Ngôi 1: Thượng Đế là 1 điểm đơn nhất, không có tương tác nội bộ nào bên trong cấu trúc.

·    Ngôi 2: Thượng Đế trở thành một đoạn thẳng, các phần tử bên trong có thể di chuyển và tương tác theo 1 trục duy nhất.

·    Ngôi 3: Thượng Đế trở thành một tam giác. Các phần tử bên trong có khả năng di chuyển đa dạng, với vô số chiều tương tác và vận động, dẫn đến biến đổi đa hình của cả hệ thống.

Ta sẽ phân tích chi tiết hơn, với các tiền đề như sau: Thượng Đế là tồn tại duy nhất và tự biểu lộ, có thể tự tạo ra lực làm di chuyển các phần tử bên trong không gian biểu lộ của chính mình (gọi là lực nội sinh). Thượng Đế không tự tạo ra lực từ bên ngoài để tác động lên chính mình và cũng không có bất cứ lực từ bên ngoài nào tác động vào.

·    Tại điểm khởi nguyên, Thượng Đế là 1 điểm đơn nhất. Lúc này, không có tương tác nội bộ nào bên trong cấu trúc cả. Do chưa có không gian bên trong để hoạt động, và cũng không có ngoại lực tác động, nên điểm này đứng yên.

·    Muốn biểu lộ và hoạt động, Thượng Đế phải tái cấu trúc, bằng cách tự phân cực chính mình, 1 điểm tự kéo căng thành 1 đoạn thẳng. Thượng Đế có thể di chuyển các phần tử trong đoạn thẳng này. Lúc này, Thượng Đế trở thành một hệ có tương tác nội tại, nhưng chỉ dọc theo trục của chính mình, không thể tự xoay tròn trên mặt phẳng được (không có lực ngoại sinh). Đây là giới hạn lớn về mặt biểu lộ và hoạt động.

·    Do đó, để biểu lộ và hoạt động tự do hơn, Thượng Đế cần phải tái cấu trúc thêm một lần nữa, với điểm thứ 3, rời khỏi trục phân cực của Ngôi 2, và trở thành một tam giác. Khác với đoạn thẳng, động lực nội tại do sự dịch chuyển và tương tác của các thành phần bên trong tam giác là đa chiều và do đó cực kỳ phong phú. Đáng chú ý là, các tương tác nội bộ có thể biến đổi tam giác thành các hình dạng khác, tạo ra sự biến đổi đa hình (biến dạng, co giãn…) cho toàn bộ hệ thống. Nói cách khác, cấu trúc tam giác tạo ra khả năng vận động và biến đổi vô cùng đa dạng, điều mà 1 điểm và 1 đoạn thẳng không thể làm được trong không gian của chính nó.

Như vậy, trong mô hình động lực học siêu hình, thì tam giác là hình dạng tối giản đầu tiên có mạng lưới tương tác khép kín, khả năng vận động đa chiều và biến đổi đa trạng thái. (Các đa giác cũng làm được, nhưng tam giác là hình tối giản)

Khi xét về khía cạnh tâm lý học, ta thấy như sau:

·    Khi dùng tư duy hình học để nghĩ về sự biểu lộ của Thượng Đế, thực ra ta đang dùng sự tưởng tượng có tính trực quan. Tam giác có diện tích, trí óc con người nhận thấy có một khoảng không gian được bao bọc. Nói cách khác, trí óc xem các hình đa giác là những biểu hiện trực quan có kích thước; trong đó, tam giác (3) là hình dạng tối giản. Trong khi đó, điểm (1) và đoạn (2) thì được xem như những tồn tại trừu tượng, tức là ý niệm về hình dạng chứ không phải hình dạng trực quan thực sự.

·    Không chỉ như vậy, trong mô hình động lực học siêu hình ở trên, tam giác còn là hình dạng tối giản có khả năng vận động bằng lực nội sinh. Vì vậy, trong tư duy trực quan của con người, tam giác không chỉ biểu lộ sự hiện hữu mà còn biểu lộ khả năng vận động.

·    Do đó, nếu Thượng Đế tự biểu lộ như một tam giác thì trí óc nhận thấy đó là ‘trực quan’ và có tính vận động cao. Còn nếu Thượng Đế ở dạng điểm và đoạn thì trí óc xem là trừu tượng, không trực quan, chỉ có thể chuyển động dọc trục. Đây là vấn đề thuộc về tư duy trực quan của con người, được phản ánh qua môn hình học.

Như vậy, dưới góc nhìn của tư duy trực quan- hình học, thì Ba Ngôi chưa hẳn là bản thể của Thượng Đế, mà là cấu trúc mà trí óc con người nhận thức về cách Thượng Đế biểu lộ thành thế giới này.

·    Nhận định này không phủ nhận bản thể luận, huyền bí học, hay các học thuyết siêu hình về ba Ngôi; mà nó chỉ ra một cơ sở thuộc về tâm lý học con người để lý giải và bổ sung cho vấn đề.

·    Điều quan trọng là lý giải này không yêu cầu niềm tin thần học, mà dựa trên tư duy hình học. Lúc này, ba Ngôi không còn là một tiên đề phải chấp nhận bằng niềm tin, mà sẽ là một cấu trúc hợp lý có thể hiểu được bằng nhận thức trực quan và tư duy hình học.

Ta hãy xem xét hệ thống biểu tượng của thuyết Âm Dương, để thấy tính tương đồng trong ý niệm về biểu lộ:

Dịch học nguyên thủy vốn xuất hiện trước thuyết tam vị nhất thể. Về sau, Đạo Cao Đài, một tôn giáo tại Việt Nam, đã gán ba Ngôi lần lượt với Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng. Ta xem xét tính hợp lý của cách gán này:

·    Thái Cực ứng với Ngôi 1. Thái Cực là tồn tại tối thượng mà trí óc con người có thể hình dung. Thái Cực không thể mô tả được, vì mô tả cần có sự so sánh đối chiếu. Thái Cực thường được tượng trưng bằng một vòng tròn, để biểu diễn ý ‘chưa phân cực’ (nên cũng là ‘Vô Cực’). Tuy nhiên, mọi biểu tượng đều có tính tương đối. Ví dụ như vòng tròn thì có kích thước, nên có tính tương đối. Do đó, bài viết này dùng hình tượng 1 dấu chấm trong không gian chưa tồn tại để hình dung về Thái Cực (vòng tròn nhỏ đến tuyệt đối thì như một dấu chấm). Trong cả hai trường hợp, ý niệm về Thái Cực đều là ‘tồn tại duy nhất, tuyệt đối, chưa phân cực’.

·    Thái Cực tự phân cực thành Lưỡng Nghi (Âm, Dương), ứng với Ngôi 2. Về mặt biểu tượng, Dịch học dùng 1 vạch liền tượng trưng cho Dương, 1 vạch đứt tượng trưng cho Âm. Ta thấy rõ sự tương tự của biểu tượng này với hình ảnh 1 dấu chấm kéo dài thành đoạn thẳng nối 2 điểm cực đã nói đến. Thêm vào đó, trong thuyết âm dương, người ta thường gọi là “Lý Thái Cực” và “Khí Âm Dương”, chúng nằm ở tầng ý niệm và không thuộc về thế giới hiện tượng. Điều này cũng tương ứng với việc điểm và đường thẳng đều vô hình vô dạng trong tư duy hình học như đã phân tích.

·    Âm và Dương tạo thành các cặp đối lập (Sáng và Tối, Ngày và Đêm, Đực và Cái…). Âm Dương tương khắc nhưng lại tương sinh, không triệt tiêu lẫn nhau, tạo ra trạng thái cân bằng động và chuyển hóa qua lại. Sự vận động và tương tác giữa hai mặt đối lập này được phân thành 4 trạng thái (Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương), gọi là Tứ Tượng.

·    “Tứ Tượng sinh Bát Quái”. Bát Quái là 8 quẻ, mỗi quẻ có cấu trúc 3 hào (3 vạch chồng lên nhau), là các biểu tượng tượng trưng cho những thực thể đầu tiên của thế giới hiện tượng (Càn– trời, Khôn– đất, Ly– lửa, Khảm– nước…).

·    Ta thấy một sự tương đồng về mặt biểu tượng dịch học với hình học rất đáng chú ý, như sau: Với Tứ Tượng, mỗi Tượng đại diện cho các trạng thái phát sinh từ sự tương tác và biến đổi giữa các mặt đối lập, chưa đại diện cho các thực thể của thế giới hiện tượng. Đến khi có Bát Quái, mỗi quẻ có cấu trúc 3 hào được dùng để tượng trưng cho các hiện tượng trong thế giới biểu lộ. Không rõ điều này là hữu ý hay vô ý, nhưng cấu trúc 3 thành phần này tương tự việc một tam giác có 3 đỉnh/ 3 cạnh mới trở thành một hình dạng hữu hình có kích thước trong tư duy hình học, như đã trình bày. Đây là một điểm trùng hợp thú vị, nó có thể xuất phát từ cấu trúc tam nguyên của thực tại, hoặc từ tư duy trực quan của con người về thực tại.

Như vậy: các biểu tượng của Dịch học có sự tương thích cao với những gì bài viết đã lý giải về sự biểu lộ và tam nguyên.

 

2.2. Vấn đề 2: “Tại sao ba Ngôi lại có những đặc tính như vậy?”

Mục 2.1 chỉ ra lý do mà trí óc con người chấp nhận ý tưởng “Thượng Đế có ba Ngôi". Khi đã chấp nhận rằng Thượng Đế có ba Ngôi, con người muốn hiểu về ba Ngôi. Mục này đưa ra lý giải cho một số cách hiểu phổ biến trên thế giới.

Đầu tiên, kết hợp Dịch học với những gì đã phân tích, bài viết đưa ra luận giải về tính chất của ba Ngôi như sau:

·    Khởi nguyên luận cho rằng vào lúc ban sơ, khi chưa có gì tồn tại, chỉ có Thượng Đế là một Hiện hữu duy nhất. Thực tại này trong thuyết Âm Dương gọi là Thái Cực, ta đã hình dung như 1 điểm duy nhất trong không gian chưa tồn tại. Vì là nguồn gốc của sự biểu lộ thành thế giới, Ngôi 1 là ngôi của lực Khởi Phát từ một Bản Thể có tính ĐƠN NHẤT (singularity). Thuyết biểu lộ cho rằng thế giới này xuất phát từ một ý nghĩ của Đấng Tuyệt đối, đó là ý chí khởi nguyên. Vì chỉ có một, thuộc tính nhân cách hóa của Ngôi 1 là ý chí và sức mạnh khai phá, không có gì ngoài nó, không có sự nhân nhượng.

·    “Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng.” Lưỡng Nghi là âm-dương, chỉ sự phân cực. Tứ Tượng là sự phân hóa và vận hành nội tại của âm- dương, với 4 trạng thái chuyển đổi qua lại, nhưng không bao giờ triệt tiêu lẫn nhau. Do đó, Ngôi 2 trước hết là PHÂN CỰC, đồng thời Điều hòa các mối Quan Hệ trong sự Tương tác giữa các mặt đối lập (duality) để duy trì sự tồn tại. Do đó, Ngôi này thường được nhân cách hóa gắn với tình thương và sự khôn ngoan.

·    Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát quái biến hóa vô cùng.” Bát Quái tượng trưng cho những thực thể đầu tiên của thế giới hiện tượng, và từ đây thế giới hiện tượng biến đổi vô tận. Như vậy, Ngôi 3 là ngôi BIỂU LỘ, Vận Động, sáng tạo ra sự đa dạng (multiplicity). Và khi thực tại càng biểu lộ thì mức độ phức tạp, vi tế và thông minh ngày càng gia tăng (“Bát quái biến hóa vô cùng”). Do đó, thuộc tính nhân cách hóa của ngôi này được hiểu là trí tuệ, sáng tạo và vận động.

·    Từ đó có thể thấy ba Ngôi mang các ý nghĩa cơ bản: ĐƠN NHẤT- PHÂN CỰC- BIỂU LỘ; ứng với Bản thể– Quan hệ– Hiện tượng, cũng như ý chí- tình thương- trí tuệ… dựa trên những suy luận về quá trình biểu lộ của thực tại.

Giờ ta sẽ xem xét một số cách hiểu về ba Ngôi:

Ấn Độ giáo có Trimurti: Shiva – hủy diệt (1), Vishnu – bảo tồn (2), Brahma – sáng tạo (3).

·    Cách giải thích nhân cách hóa này của Ấn giáo rất gần với ý tưởng của bài viết, chỉ có khác biệt đáng chú ý là ở Ngôi 1, Shiva là thần hủy diệt.

·    Lý do nằm ở việc Ấn Độ cho rằng vũ trụ biểu hiện theo chu kỳ (manvantara): sinh- trụ- diệt, rồi lại sinh. Trước khi sinh cái mới thì cái cũ phải bị hủy diệt. Do đó, Shiva đại diện cho tính hủy diệt của Ngôi 1, nhưng ngụ ý rằng một cái mới sẽ khởi phát sau hủy diệt.

Theo Ai Cập giáo: Osiris- Isis- Horus.

·    Osiris liên quan đến cái chết và phán xét, ứng với Ngôi 1 (có sự tương đồng với Shiva). Isis là biểu tượng của sự nuôi dưỡng và chữa lành, phù hợp với tính điều hòa của Ngôi 2. Horus là vị thần của sự sống mới và bầu trời, ứng với tính hiển lộ của Ngôi 3.

·    Đáng chú ý, đây là mô hình Cha- Mẹ- Con, có tính nhân cách hóa rất cao.

Theo H. P. Blavatsky, người khai mở Thông thiên học vào thế kỷ 19, vũ trụ trải qua quá trình hiển lộ như sau:

·    Sau Đấng Tuyệt đối (The Absolute), có 1 Thượng Đế chưa biểu lộ (unmanifested Logos), được gọi là “Nguyên nhân đầu tiên”. Ứng với Ngôi 1.

·    Vật chất-tinh thần, Sự Sống, là Ngôi 2. Khái niệm “Vật chất-tinh thần” này dường như là 1 hợp nhất của tinh thần và vật chất. Tính nhị nguyên này rất giống với Lưỡng nghi Âm-Dương.

·    Ngôi 3 được gọi là Cosmic Ideation (tạm dịch ‘Niệm Tưởng Thành Vũ Trụ’),  Mahat hay Trí Tuệ, Linh hồn Vũ trụ. Tính chất trí tuệ và tạo thành thế giới này rất gần với khung Hiển lộ/ trí tuệ của Ngôi 3.

Alice Bailey, một nhà Thông thiên học thế kỷ 20, kế thừa ba Ngôi của Blavatsky, và hệ thống hóa chi tiết hơn như sau:

·    Ngôi 1: Thượng Đế chưa biểu lộ. Cha. Ý chí. Năng lượng dương (positive).

·    Ngôi 2: Vật chất-tinh thần, Sự Sống. Con. Ý thức. Tình thương- Minh triết. Năng lượng trung tính.

·    Ngôi 3: Cosmic Ideation (tạm dịch ‘Niệm Tưởng Thành Vũ Trụ’), Linh hồn Vũ trụ. Thánh thần. Hình dạng. Trí Năng. Năng lượng âm (negative).

·    Các thuộc tính nhân cách hóa Ý chí, Tình thương- Minh triết, Trí Năng này rất gần với khung Ý chí, Tình thương, Trí tuệ của bài viết.

Phật giáo có Tây phương tam Thánh: A Di Đà – Dũng (1), Quán Thế Âm – Bi (2), Đại Thế Chí – Trí (3).

·    Theo một góc nhìn, Phật giáo là vô thần giáo. Tuy nhiên, cũng có một góc nhìn khác, trong đó A Di Đà, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí chính là ẩn dụ của ba Ngôi.

·    A Di Đà tượng trưng cho Dũng, là vị Phật đầu tiên, ứng với khởi nguyên (ngôi 1). Quán Thế Âm tượng trưng tâm (từ) Bi, ứng với điều hòa (ngôi 2). Đại Thế Chí tượng trưng cho Trí, ứng với hiển lộ (ngôi 3).

·    Ý nghĩa của bộ ba này cũng rất gần với Alice Bailey.

Như vậy, đây là lời giải thích cho câu hỏi “Tại sao ba Ngôi lại có những đặc tính như vậy?”:

·    Tùy tôn giáo, trường phái mà có những cách hiểu khác nhau về ba Ngôi; khái niệm “Tam vị nhất thể” của Công giáo không phải là cách hiểu duy nhất. Có những tôn giáo dùng những vị thần khác nhau để đại diện cho ý niệm về 3 đấng tối cao. Có những trường phái lại gán những đặc tính nhân cách hóa cho Thượng Đế… Những sự khác biệt này là tùy theo bối cảnh văn hóa, lịch sử… nhưng đều cùng nói về một cấu trúc ‘tam nguyên’.

·    Quan trọng nhất: dù hiểu như thế nào đi nữa, thì đó cũng là những cách khác nhau mà con người hình dung về Thượng Đế. Vì vậy, mọi cách hiểu đều bị giới hạn hay điều kiện hóa bởi trí óc con người.

·    Khi đã hiểu những điều này, người ta có thể bỏ qua những khác biệt trong cách diễn đạt, để nhìn sâu vào cấu trúc và bản chất của vấn đề.

 

3. Cấu trúc tam nguyên và ba loại tư duy:

Với những gì đã được trình bày, trong thần học có một hình mẫu lặp đi lặp về ba Ngôi, với ma trận tương ứng như sau:

·    Ngôi 1: Cha- Shiva- Osiris- Ngọc Thanh…

·    Ngôi 2: Con- Vishnu- Isis- Thượng Thanh…

·    Ngôi 3: Thánh Thần- Brahma- Horus- Thái Thanh…

Khi xem xét theo nhiều hướng, ba Ngôi, hay ba Khía cạnh, có thể được hiểu như một cấu trúc đa tầng:

·    Ở tầng thần học: đây là bản thể hay biểu hiện của Thượng Đế, biểu lộ thành thực tại, được biết đến thông qua mặc khải.

·    Ở tầng nhận thức, về tính biểu lộ: Tam nguyên (3 cấu phần) là mô hình tối giản mà tư duy trực quan có thể tiếp nhận như một cấu trúc có tính biểu lộ rõ ràng.

·    Ở tầng nhận thức, về tính vận động: Trí óc con người hình dung rằng tam giác là hình dạng tối giản có thể chuyển động tự do bằng động lực nội sinh.

=> Nói cách khác, đây là cách trí óc con người cấu trúc thực tại bằng tư duy trực quan- hình học. Dưới góc nhìn này, Ba Ngôi theo nghĩa ‘tam vị nhất thể’ (tuy 3 mà 1) được hình dung như một hình tam giác, hình dạng tối giản có khả năng biểu lộ và vận động tự do.

Như vậy, đây là hai cách tiếp cận khác nhau về thực tại. Cách hiểu từ góc nhìn tâm lý không phủ định cách hiểu siêu hình, mà nó bổ sung thêm một cách lý giải và chỉ ra một mẫu số chung trong tư duy của nhân loại: hai cách tiếp cận này có thể được xem là hai tầng đọc khác nhau của cùng một cấu trúc nền.

·    Khi tiếp cận dưới góc nhìn động lực học siêu hình, bài viết nhận thấy tiến trình biểu lộ của Thượng Đế/ thực tại có thể được khái quát hóa thành một nguyên lý nền tảng với 3 bước: (1) ĐƠN NHẤT => (2) PHÂN CỰC => (3) BIỂU LỘ, đồng thời tương ứng với: (1) Bản thể – (2) Quan hệ – (3) Hiện tượng.

·    Tiến trình biểu lộ này tương ứng trực tiếp với mô tả của Dịch học: (1) Thái Cực => (2) Lưỡng Nghi, Tứ Tượng (3) Bát Quái =>…

(Ghi chú: theo Dịch học Cao Đài thì Tứ Tượng ứng với Ngôi 3. Tuy nhiên, Tứ Tượng là biểu trưng cho những quan hệ nội tại của Lưỡng Nghi. Xét khung phân tích của bài viết thì Lưỡng Nghi và Tứ Tượng cùng thuộc tầng (2) Phân cực và Quan hệ; còn Bát Quái thì ứng với tầng (3) của Hiện tượng và Biểu lộ.)

Mô hình này cho phép diễn giải một cách nhất quán các hệ tam nguyên trong các trường phái huyền bí học. Trong đó, ba Ngôi/ ba Khía cạnh được nhân cách hóa thành Ý chí- Tình thương- Trí năng, hay những ý tưởng tương tự về Dũng- Bi- Trí, Chân- Thiện- Mỹ…

·    Cùng một tam nguyên có thể được nhìn theo những cách khác nhau: như cấu trúc của thực tại (Bản thể– Quan hệ– Hiện tượng), như tiến trình biểu lộ (Đơn nhất– Phân cực– Biểu lộ), hoặc như chức năng vận hành trong đời sống (Mục đích– Điều hòa– Sáng tạo)…

·    Các diễn giải khác nhau chỉ là những phép chiếu của cùng một cấu trúc nền, tùy theo hệ quy chiếu quan sát.

Điều thú vị là tiến trình 3 giai đoạn (1) Đơn nhất => (2) Phân cực => (3) Biểu lộ dường như là một khuôn mẫu có thể được tìm thấy trong nhiều khía cạnh của cuộc sống:

·    Ví dụ như trong tự nhiên, quá trình hình thành một sự sống mới thường trải qua 3 quá trình: (1) Thụ tinh => (2) Phân bào => (3) Sinh ra.

·    Hay trong hoạt động sáng tạo của con người, có rất nhiều thứ được hình thành từ (1) Ý tưởng => (2) Suy nghiệm => (3) Hiện thực hóa:

+ Xây dựng công trình: Ý tưởng => Thiết kế => Thi công.

+ Soạn nhạc: Cảm hứng => Giai điệu => Bản nhạc.

+ Viết văn: Ý tưởng => Cốt truyện => Tác phẩm.

·   

Trên cơ sở đó, bài viết xây dựng một bảng tổng hợp, trong đó mỗi hàng là một hệ tam nguyên tương ứng trong cùng một tầng nghĩa. Tất cả đều có thể được diễn giải theo cấu trúc chung Đơn nhất- Phân cực- Biểu lộ, như sau:

Nguyên lý

1- Đơn nhất

2- Phân cực

3- Biểu lộ

Ý nghĩa

Bản thể

Quan hệ

Hiện tượng

Kitô giáo

Cha

Con

Thánh Thần

Ấn giáo

Shiva

Vishnu

Brahma

Ai Cập

Osiris

Isis

Horus

Đạo giáo

Ngọc Thanh

Thượng Thanh

Thái Thanh

H. P. Blavatsky

Thượng Đế chưa biểu lộ

Vật chất-tinh thần

Cosmic Ideation

Alice Bailey

Ý Chí

Tình Thương

Trí Năng

Con người

Tinh thần

Linh hồn

Thể xác

Triết học

Nhất nguyên

Nhị nguyên

Tam nguyên

Hình thái

Đơn thể

Lưỡng cực

Đa hình

Chức năng

Khởi phát

Tương tác

Hiển lộ

Nhận thức

Trừu tượng

Phân cực

Biểu lộ

Tâm lý

Ý chí

Tình cảm

Trí tuệ

Hoạt động

Tồn tại

Tương tác

Sáng tạo

Hình học

Điểm

Đoạn thẳng

Tam giác

Động lực học

Tĩnh

Chuyển động giới hạn

Chuyển động tự do

 

 

 

Câu hỏi sẽ là: Tại sao không chỉ trong tôn giáo, huyền bí học có ba Ngôi, mà còn có nhiều tam nguyên trong các lĩnh vực khác?

·    Thứ nhất, đó hoàn toàn có khả năng là sự biểu lộ của thực tại trong thực tế mà con người quan sát được.

·    Thứ hai: Khi người ta tìm cách phân chia một sự vật/ hiện tượng hay một quá trình, thì có vô số cách để phân chia nhiều hơn 2 cấu phần (đa nguyên). Nhưng tam nguyên (3 cấu phần) là mô hình tối giản mà tư duy trực quan có thể tiếp nhận như một cấu trúc có tính biểu lộ và vận động. Ít hơn 3, khi quy về 2 (nhị nguyên), thì trí óc có xu hướng xem đó là mối quan hệ nội tại giữa hai cực, chưa biểu lộ thành hiện tượng trực quan. Và khi quy về 1 (nhất nguyên), thì lại không còn sự phân chia hay quan hệ cấu trúc nào nữa.

·    (Lưu ý: thế giới cũng có các mô hình Tứ Đại (4 nguyên tố), Ngũ Hành (5 nguyên tố), Bảy Tia (7 năng lượng cơ bản)… Nhưng các mô hình này đều thuộc tầng Hiện tượng, với biểu hiện đa dạng và có thể có vô số cấp phân loại – đa nguyên. Còn con số 3 là 3 tầng mô tả tiến trình phát sinh hoặc 3 tầng tư duy về một thực tại. Bài viết sẽ tiếp tục làm rõ vấn đề này.)

Khi xem xét về tư duy con người, ở tầng triết học, người viết phân loại ba nhóm suy niệm triết học như sau:

·    Suy niệm về Bản thể: là sự suy niệm hướng đến nguồn gốc, nguyên lý hay bản thể của vấn đề (như Thượng Đế, thực tại, hiện hữu…). Trong các hệ tư tưởng, sự suy niệm này bước vào thế giới ý niệm siêu hình nhất, với các khái niệm như: Thái Cực (Dịch học), Đạo (Lão Tử), Chân Như hay “sắc tức thị không” (Phật giáo), Parabrahman (Ấn giáo)…

·    Suy niệm về Quan hệ: là sự suy niệm về các mặt đối lập và mối quan hệ giữa chúng. Trong các hệ tư tưởng, sự suy niệm này đào sâu về: Âm và Dương, Tinh thần và Vật chất, Hữu và Vô, Chánh và Tà, Tồn tại hay Không tồn tại…

·    Suy niệm về Hiện tượng: là sự suy niệm về hiện tượng và sự biểu lộ đa dạng. Tư duy này thường dẫn đến các hệ thống lý giải các hiện tượng cũng như phân loại chúng. Các hệ thống về Tứ Đại (4 nguyên tố), Ngũ Hành (5 nguyên tố), Bảy Tia (7 năng lượng cơ bản)… đã nhắc tới có thể xem là thuộc về tầng suy niệm này.

Còn khi xem xét kỹ lưỡng về các loại hình tư duy của con người, người viết nhận thấy một cấu trúc tam nguyên về tư duy như sau:

·    Tư duy nhất nguyên (singularity): là tư duy hướng đến mục đích, khởi phát ý tưởng và quyết định lựa chọn. Trong cuộc sống đời thường, tư duy này thường đặt ra câu hỏi “Mục đích là gì”, “Nên bắt đầu làm gì?”…

·    Tư duy nhị nguyên (duality): là tư duy hướng về phân biệt, cân nhắc, và điều hòa. Trong cuộc sống đời thường, tư duy này thường đặt ra câu hỏi “Làm thế này đúng hay sai/ tốt hay xấu/ lợi hay hại…”

·    Tư duy đa nguyên (multiplicity): là tư duy hướng về sự đa dạng, kết nối đa yếu tố, và sáng tạo. Trong cuộc sống đời thường, tư duy này thường đặt ra câu hỏi “Nên làm như thế nào cho hiệu quả/ cho hay/ cho đẹp…”

Đây là 3 loại tư duy khác nhau của con người về thực tại, và chúng có thể được xem là tương ứng với 3 Ngôi, hoặc tương ứng với cấu trúc (1) Bản thể – (2) Quan hệ – (3) Hiện tượng, hay tương ứng với tiến trình biểu lộ (1) Đơn nhất- (2) Phân cực- (3) Biểu lộ… tùy theo góc nhìn.

Bài viết tiếp cận các tam nguyên như những cấu trúc vừa mang tính nhận thức luận, vừa mang tính siêu hình, mà không thiên hẳn về một hướng nào.

 

 

PHẦN II - TAM ĐẠO LUẬN

4. Cấu trúc tư duy và Tam đạo:

Trong Phần 1, bài viết đã đề ra hệ nguyên lý nền tảng (1) Đơn nhất- (2) Phân cực- (3) Biểu lộ, như một cách hiểu về sự biểu lộ của Thượng Đế thành ba Ngôi. Và theo một cách diễn giải của thần học:

·    Từ 1 thể Tuyệt đối, khi biểu hiện sẽ thành 3 khía cạnh, 3 loại năng lượng khác nhau. Mọi sự trên thế giới này đều chịu ảnh hưởng bởi cả 3 loại năng lượng cơ bản này, chỉ khác ở mức độ ít nhiều. Cũng như có 3 màu cơ bản: đỏ (1), lam (2), vàng (3); mỗi sắc màu trên thế giới đều từ 3 màu này mà ra, chỉ khác ở tỉ lệ. Đó gọi là “Nhất sinh nhị, Nhị sinh tam, Tam sinh vạn vật”, và cũng là “Nhất khí hóa Tam Thanh”.

·    Theo lý thuyết này, con người khi sinh ra cũng chịu ảnh hưởng của cả ba Ngôi, nhưng mức độ mạnh yếu khác nhau. Ngôi có ảnh hưởng chủ đạo sẽ dẫn đến xu hướng tổng thể trong cuộc đời của người đó.

Khi biểu hiện trong đời sống con người, ba nguyên lý này có thể được nhận biết thông qua ba khuynh hướng tư duy khác nhau: tư duy nhất nguyên, tư duy nhị nguyên, tư duy đa nguyên. (như đã trình bày trong Phần 1)

·    Mỗi người đều có khả năng suy nghĩ theo cả 3 hướng tư duy này, nhưng xu hướng của mỗi loại tư duy không đồng đều ở mỗi người. Nói cách khác, mỗi người đều có một lối tư duy chủ đạo. Lối tư duy chủ đạo sẽ tạo ra tính cách, dẫn dắt cách lựa chọn và đưa ra quyết định trong cuộc đời, từ đó dẫn đến xu hướng tổng thể trong cuộc đời con người.

Trong Phần 2 này, bài viết mượn tên gọi từ Tam tài, chia con người thành 3 nhóm theo ‘năng lượng’ hay lối tư duy chủ đạo và chỉ ra xu hướng tổng quát về cuộc đời của từng nhóm. Cụ thể như sau:

·    Người Thiên đạo: tư duy chủ đạo là tư duy nhất nguyên, ứng với Ngôi 1 hay Đơn nhất.

·    Người Nhân đạo: tư duy chủ đạo là tư duy nhị nguyên, ứng với Ngôi 2 hay Phân cực.

·    Người Địa đạo: tư duy chủ đạo là tư duy đa nguyên, ứng với Ngôi 3 hay Biểu lộ.

 

4.1. Thiên đạo:

Thế giới này khởi phát từ một Ý nghĩ hay Ý chí của Thể Tuyệt Đối đơn nhất. Do đó, Thiên đạo xuất phát từ Thái Cực chí cao vô thượng, là con đường của Khởi phát, Ý chí, Quyền năng và Thống nhất...

Với đặc tính năng lượng này, người thuộc Thiên đạo thường hoạt động trong lĩnh vực CHÍNH TRỊ, quân sự, tổ chức, quản lý… Xu hướng chung của họ là leo lên những vị trí quyền lực và chỉ đạo người khác làm việc.

·    Người Thiên đạo thường có mục đích cụ thể cho mọi hành động, có tầm nhìn rộng lớn, thường quan tâm đến những vấn đề vĩ mô, và ít chú trọng đến chi tiết. Quyền mưu thường là cách mà họ đạt được mục đích của mình.

Ý chí mạnh mẽ của người Thiên đạo thường đi đầu dẫn dắt xã hội. Tuy nhiên, họ có khuynh hướng xem thường ý chí của những người xung quanh, và muốn o ép người khác phải đi theo kế hoạch, định hướng của họ. Về chính trị, người ta sẽ thao túng hoặc ép buộc người khác bằng những chính sách, luật lệ… Về quân sự, đó là sự càn quét bằng sức mạnh, bạo lực.

·    Điểm tốt thường thấy của người Thiên đạo là lòng dũng cảm, ý chí mạnh mẽ, quyết tâm, kiên trì…

·    Điểm xấu là vì Thiên đạo quá thiên về quyền lực và ý chí sắt đá, dễ dẫn đến bạo lực, tàn nhẫn, thiếu lòng nhân từ (thuộc về Nhân đạo).

Là con đường của quyền lực, nhưng có sự khác biệt đáng kể ở các mức phát triển của người Thiên đạo.

·    Ở mức độ phát triển thấp, người Thiên đạo hướng ý chí vào việc tìm kiếm quyền lực cá nhân, phục vụ cho mục đích thấp thỏi của bản ngã.

·    Khi sự phát triển tăng lên, tuy vẫn có thể còn dấu ấn cá nhân, nhưng ý chí của người Thiên đạo dần mang tính phi ngã, và phục vụ cho những ý tưởng vĩ mô to lớn hơn của một quốc gia, một thời đại…

Ở mức độ phát triển cao, người Thiên đạo trở thành những vị vua, những nhà chinh phạt vĩ đại gây chấn động thời đại. Đó có thể là những nhà lập quốc như Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn, Washington… những vị vua khiến quốc thái dân an (vương đạo) như Đường Thái Tông, Elizabeth I… những kẻ xâm lược (bá quyền) như Julius Caesar, Alexandre đại đế, Napoleon… hay những nhà quân sự lỗi lạc như Tôn Tử, Trần Hưng Đạo, Suvorov…

·    Người Thiên đạo chính là những người tạo ra các trật tự thống trị, từ cấp bộ lạc cho đến một vùng đất, một quốc gia và siêu quốc gia, từ mô hình chủ nô, phong kiến cho đến các thiết chế nhà nước hiện đại…

Biểu tượng của Thiên đạo là Mặt trời (Nhật), chủ tể của bầu trời. Mặt trời vừa là yếu tố thiết yếu của sự sống (không thể có sự sống nếu không có mặt trời), mà cũng là yếu tố hủy diệt trong nhiều trường hợp. Đó là lý do Shiva là thần hủy diệt - sự hủy diệt cái cũ trước khi sáng tạo cái mới. Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn… mang trong người ý chí “khai sơn phá thạch”, từ hủy diệt mà sáng lập ra một quốc gia mới.

·    Nhất tướng công thành, vạn cốt khô” chính là nói về người Thiên đạo. Họ tự xem mình là số 1 (Thái cực, cao nhất), kế hoạch do họ đặt ra là trên hết, những người khác đều là thứ yếu. Họ dám tiến hành những cuộc chiến tranh đẫm máu mà người bình thường phải chùng tay. Lịch sử chiến tranh của nhân loại đều nằm dưới sự chỉ huy của những người thuộc Thiên đạo. Câu kinh “Trời đất bất nhân, xem vạn vật như chó rơm” cũng là nói về Thiên đạo.

 

4.2. Nhân đạo:

Nhân đạo xuất phát từ Lưỡng nghi Âm-Dương, là con đường của Điều hòa, tình thương và minh triết.

Trong Tinh- Khí- Thần, thì Nhân đạo thuộc về Khí. Khí có Âm và Dương, khắc nhau mà lại hút nhau, điều đó tạo ra một ‘Mối quan hệ’ tương tác giữa 2 mặt đối lập, xoay vần không ngớt (thể hiện qua Tứ Tượng). Điều này khiến cho người Nhân đạo thường xuyên suy tư về mối quan hệ giữa bản thân và môi trường xung quanh, hoặc với những người xung quanh.

Với đặc tính năng lượng này, người thuộc Nhân đạo thường hoạt động trong lĩnh vực mang tính NHÂN SINH. Người Nhân đạo thường trở thành những người thầy, quân sư, triết gia, cố vấn, nhà tâm lý, nhà văn… thích bàn luận sâu sắc các vấn đề. Và nếu họ tìm thấy lý tưởng tinh thần, thì sẽ trở thành một nhà tôn giáo, tiến nhập ‘đường Đạo’.

·    Nếu như người Thiên đạo là những thủ lĩnh chính trị hay quân sự, thì người Nhân đạo là những quân sư ‘quạt mo’, những chiến lược gia luận bàn và hoạch định thời cuộc. Thủ lĩnh chính trị thiếu quân sư thì không thể thành công, quân sư mà không gặp thủ lĩnh, thì khó có đất dụng võ.

Con đường Nhân đạo phát triển thông qua sự tương tác giữa các mặt đối lập như sau:

·    Khi chưa phát triển cao, người Nhân đạo cũng có những điểm yếu nhất định. Họ thường mơ mộng thiếu thực tế, thiếu quyết đoán trong hành động; dễ sa đà vào lý thuyết thiếu thực tiễn… Ái tình dễ khiến họ sa ngã, còn sự dễ mủi lòng và cả tin lại khiến họ dễ bị lừa gạt. Khi tiếp xúc quá sớm với tâm linh mà thiếu óc phân biện, họ dễ rơi vào con đường mê tín…

·    Trong đời sống con người, những mâu thuẫn hàng ngày làm nảy sinh nhu cầu dàn xếp, điều hòa các mối Quan hệ để giảm xung đột. Đồng thời, sự suy tư thường xuyên về vạn vật, đúc kết kinh nghiệm đời sống… dẫn đến sự khôn ngoan, minh triết. Giữa người với người, mối quan hệ nảy sinh ra Tình người. Đến gần cuối con đường, qua thời gian dài suy ngẫm về nhân sinh, về thế thái nhân tình, tình yêu thương trở nên vô kỷ, trở thành lòng từ bi, bác ái.

·    Trong đời sống thường ngày, người Nhân đạo thường không mấy nổi bật, những điểm mạnh của họ thường là hiền lành hay ‘hiểu lẽ thường’ (common-sense) thì đều không gây ấn tượng mạnh cho người khác. Nhưng khi đã phát triển ở mức độ cao nhất, ta có những bậc Đạo sưTriết gia vĩ đại. Đó là những Thích Ca Mâu Ni, Jesus, Plato, Khổng Tử, Lão Tử… với sức mạnh tư tưởng có tầm ảnh hưởng vượt thời đại, kéo dài hàng ngàn năm, được nhân thế kính ngưỡng. Những điểm nhấn trong tư tưởng của họ luôn là Minh triếtBác ái (từ bi/ tình thương).

Vì vậy, Nhân đạo là đạo về ‘bảo tồn’ (Vishnu), đạo của Minh Triết (Phật), Tình thương (Jesus), cứu nhân độ thế (các vị Thánh, Bồ tát)… Biểu tượng của Nhân đạo là Mặt trăng (Nguyệt) – phản chiếu nhân sinh, soi sáng dịu dàng mà không thiêu đốt, không làm hại sinh linh.

 

4.3. Địa đạo:

“Tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hóa vô cùng.”

Địa đạo là con đường của Biểu lộ, sáng tạo và trí tuệ. Nếu như Mặt trời có sức mạnh hủy diệt mạnh mẽ, thì Đất mẹ (Gaia) lại chú trọng đến sáng tạo (Brahma), vạn vật sinh sôi, trăm hoa đua nở.

·    Thiên đạo chủ về tinh thần, ý chí và sức mạnh; Nhân đạo chủ về tư tưởng, tình thương, nhân sinh quan; Địa đạo thì chủ về trí tuệ, làm chủ vật chất, sáng tạo đa dạng trong thế giới hiện tượng.

Người thuộc Địa đạo vì vậy rất đông đảo và đa dạng, thuộc đủ mọi lĩnh vực ngành nghề khác nhau trong xã hội, với nhiều nhánh nhỏ bên trong: toán học và khoa học kỹ thuật; nghệ thuật; thiết kế, kiến trúc; thương mại, giao dịch…

·    Trong một tổ chức, người Thiên đạo thường là người chỉ đạo, người Nhân đạo là cố vấn hoạch định chiến lược, còn người Địa đạo là những kỹ thuật viên làm việc trực tiếp để hoàn thành công việc.

Với trí tuệ và sức sáng tạo cao, người Địa đạo chính là nhóm người chủ chốt trong việc tạo ra những nền văn minh vật chất của thế giới.

·    Sự phát triển về trí tuệ giúp con người tiền sử biết sử dụng công cụ, biết dùng lửa, rồi biết chăn nuôi, trồng trọt, săn bắn… dần hình thành các nền văn minh khác nhau suốt chiều dài lịch sử nhân loại.

·    Trí tuệ thường được thể hiện qua sự sáng tạo, và sự sáng tạo có mặt ở khắp mọi nơi: từ những món ăn mới, những mẫu thời trang mới, những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, cho đến những công trình kiến trúc vượt thời gian…

·    Đến thời cận đại, nhân loại chứng kiến sự bùng nổ của trí tuệ: những khám phá khoa học, những cuộc cách mạng công nghiệp, nền giáo dục phổ quát chú trọng vào trí tuệ vật chất… đã thay đổi bộ mặt của trái đất một cách nhanh chóng, dẫn đến thế giới hiện đại ngày nay. Đó chính là sức mạnh Địa đạo.

Chính vì vậy, trong khi Thiên đạo tạo ra những con người có ý chí mạnh mẽ nhất, Nhân đạo tạo ra những nhà hiền triết khôn ngoan và từ bi nhất, thì Địa đạo tạo ra những con người thông minh và sáng tạo nhất thế giới.

·    Đó là những Pythagore, Copernicus, Da Vinci, Newton, Faraday, Mendeleev, Einstein, Edison, Tesla… và vô số những bộ óc vĩ đại khác.

Khai thác vật chất là thế mạnh của người Địa đạo. Nhưng ngược lại, vật chất cũng có thể là cái bẫy khiến con người trầm luân trong đó.

·    Tiền bạc thì dễ hiểu rồi. Vàng sinh ra trong lòng đất, tiền bạc cũng là kết tinh của Địa đạo. Những người Địa đạo thường giỏi hơn trong việc tạo ra tiền bạc ở cõi trần này, các tỉ phú công nghệ của thời hiện đại thuộc nhóm này. Nhưng có tiền thì dễ, buông bỏ tiền mới khó. Người làm ra tiền, nhưng lại bị nó chi phối; tâm bị chi phối, thì không thể đắc đạo.

·    Và có những thứ vô hình mà vẫn là vật chất. Ví dụ như những nhà khoa học chìm đắm trong các nghiên cứu về thế giới vật chất, những nghệ sĩ say mê vẻ đẹp của hình tướng, âm thanh… hay những kiến trúc sư, kỹ sư xây hết công trình này đến công trình khác…

·    Vấn đề của vật chất là sự thiên biến vạn hóa, nói cách khác là nó có thể biến đổi vô hạn (“bát quái biến hóa vô cùng”), và người ta có thể lạc lối trong mê cung này trong vô lượng kiếp sống mà không tìm thấy đường ra, hay không thấy sự cần thiết của việc tầm Đạo. Theo một cách nói, người ta gọi đây là ‘xảo trí’ (intellect); đối ngược với ‘minh triết’ (wisdom), đơn giản mà thông tuệ.

Nếu Thiên đạo là Nhật, Nhân đạo là Nguyệt, thì Địa đạo là Tinh, là vô số vì sao trên bầu trời vô hạn bao la.

 

5. Luận Tam đạo:

Ba loại tư duy xuất phát từ các nguyên lý Đơn nhất- Phân cực- Biểu lộ, với các tầng nghĩa liên quan đến Bản thể– Quan hệ– Hiện tượng.

·    Tại sao có người thích chính trị, có người thích tôn giáo, có người thích kỹ thuật? Cái khuynh hướng tâm lý của mỗi người dẫn đến lựa chọn của họ, và những lựa chọn khác nhau dẫn đến những cuộc đời khác nhau.

·    Tuy nhiên, Tam đạo ảnh hưởng con người không phải là một Định mệnh, mà thực ra là theo một quy luật của năng lượng, hay quy luật của tâm thức. Và theo nguyên tắc “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, chính cái năng lượng tâm thức của mỗi người khiến họ bị cuốn vào trong dòng chảy năng lượng tương ứng. Hình ảnh “gió tầng nào, mây tầng ấy” là một minh họa dễ hiểu cho vấn đề này.

·    Mặt khác, Tam đạo cũng không phải là ba nhóm người tách biệt tuyệt đối. Mỗi con người đều mang cả ba loại tư duy, nhưng ở những tỷ lệ khác nhau, tạo ra những khuynh hướng khác nhau trong suy nghĩ và hành động. Các ví dụ được đưa ra (Lão Tử, Napoleon…) chỉ nhằm minh họa cho khuynh hướng chủ đạo nổi bật nhất, chứ không phải một cách phân loại cứng ngắc. Năng lượng tư duy khác biệt tạo ra đường đi (đạo) khác biệt, nhưng Tam đạo đều không ngoài Đại Đạo. Điều này giống như 3 dòng chảy (hải lưu) trong cùng 1 đại dương. Vì vậy, đừng hiểu lầm rằng đây chỉ là một sự phân loại.

Thêm vào đó, cấu trúc tư duy là động lực tâm lý sâu xa của con người, từ đó biểu hiện ra mọi hoạt động của xã hội loài người. Điều này có thể được hình dung như 3 loại năng lượng hay 3 loại vector lực dẫn dắt các biểu hiện xã hội. Khi đã hiểu điều này, cấu trúc tư duy cho ta một khung tham chiếu để diễn giải về rất nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến con người… 

Ví dụ như về tôn giáo:

·    Ở phương diện nhân sinh, mỗi tôn giáo có thể được xem là một con đường nhỏ (tiểu đạo) bên trong Nhân đạo, với sự khác biệt đôi chút tùy mức độ ảnh hưởng năng lượng Thiên và Địa. Phật giáo mang đậm dấu ấn của Nhân đạo, trong đó Từ bi và Giác ngộ được đề cao. Các tôn giáo hệ Abraham (Do Thái, Công Giáo và Hồi Giáo) cũng thuộc Nhân đạo, nhưng lại chịu ảnh hưởng mạnh của Thiên đạo, nặng về Thần quyền, phục tùng, thường xảy ra ‘thánh chiến’. Lão giáo thì có ảnh hưởng của Địa đạo, thiên về “thuật”, chú trọng luyện khí, luyện đơn…

·    Khi xét một tôn giáo, thường sẽ có: Nguyên lý tối thượng, Giáo lýGiáo chúng. Ví dụ trong Phật giáo, thì tương ứng lần lượt sẽ là Phật, Pháp, Tăng (tam bảo). Nguyên lý tối thượng ứng với Thiên, nói về bản thể được tín ngưỡng hay yếu tố khởi phát của tôn giáo đó. Giáo lý ứng với Nhân, giảng giải các mối quan hệ, tương tác, giáo hóa, khuyên răn con người… Giáo chúng ứng với Địa, tạo ra sự biểu lộ đa hình đa dạng của tôn giáo.

·    Bên trong một tôn giáo lại có những sự phân nhánh. Ví dụ như Phật giáo có Tam thừa: Độc giác thừa, Bồ tát thừaThanh văn thừa. Độc giác thừa là con đường ý chí, tự giác ngộ, ứng với Thiên. Bồ tát thừa là con đường từ bi, hướng tới chúng sinh, ứng với Nhân. Thanh văn thừa là con đường trí tuệ, học nhiều hiểu rộng mà đắc đạo, ứng với Địa.

Hay một ví dụ về toán học, thuộc Địa đạo:

·    Trong toán học, một định lý thường hình thành qua 3 bước: (1) Tiên đề- (2) Suy luận- (3) Định lý. Tiên đề là khởi điểm có sẵn, không thể hoặc không cần chứng minh, có thể xem là ứng với Thiên. Suy luận là quá trình xem xét và lý giải các mối quan hệ, ứng với Nhân. Kết quả là sự xuất hiện của những Định lý và hệ quả đa dạng, ứng với Địa.

Ta cũng có thể xem xét lĩnh vực chính trị, vốn thuộc về Thiên đạo:

·    Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn có ba nội dung chính: Dân tộc độc lập- Dân quyền tự do- Dân sinh hạnh phúc. Ta có thể diễn giải như sau: Dân tộc độc lập chỉ quyền tự chủ bản thể của quốc gia, ứng với Thiên. Dân quyền tự do chỉ quan hệ không bị trói buộc của người dân trong xã hội, ứng với Nhân. Dân sinh hạnh phúc chỉ sự ấm no trên nhiều phương diện vật chất và tinh thần, ứng với Địa.

·    Ngoài ra, theo cơ chế “tam quyền phân lập”, quyền lực nhà nước được chia thành 3 nhánh Lập pháp- Tư pháp- Hành pháp, xét về chức năng quyền lực thì có thể xem là Lập pháp ứng Thiên, Tư pháp ứng Nhân, Hành pháp ứng Địa. Nhưng khi bộ máy nhà nước được tổ chức thành Quốc hội- Tòa án- Chính phủ, nhìn ở khía cạnh xã hội dường như Quốc hội ứng Nhân (quan hệ con người, dân quyền), Tòa án ứng Thiên (hình phạt, quyết liệt), Chính phủ ứng Địa (hoạt động đa dạng). Điều này cho thấy bản chất đa diện (đa chiều) của vấn đề, và khi thay đổi góc chiếu thì ánh xạ cũng có thể thay đổi.

Thêm vào đó, ta có thể suy ngẫm về dòng chảy của thời đại, được thôi thúc bởi các loại năng lượng khác nhau.

·    Ví dụ: Trong thời kỳ phong kiến, nhà nước mang ý chí áp đặt cao độ, đặc tính của Thiên là chủ đạo và thể hiện rõ nét. Sau đó, các nền cộng hòa và chế độ dân chủ tìm cách cân bằng quyền lực và bảo vệ người dân, Hiến pháp thể hiện ý chí của toàn dân thay vì của một người cầm quyền; mô hình này là biểu hiện của Nhân đạo. Đến thời điểm hiện tại, người ta nói về chính phủ “kỹ trị”, ứng dụng kỹ thuật công nghệ vào quản trị, đây là biểu hiện của Địa đạo.

·    Xét về chiều thời gian trong ý niệm của con người, dường như Quá khứ ứng Thiên (đơn thể- khởi phát), Hiện tại ứng Nhân (lưỡng cực- tương tác), Tương lai ứng Địa (đa hình- biểu lộ). Tuy nhiên, liệu dòng phát triển văn minh thực sự đi theo thứ tự của các nguyên lý này, hay chỉ là một sự trùng hợp, thì còn phải được xem xét kỹ lưỡng hơn.

Đó là nói về ‘đại thiên địa’. Ta cũng có thể tự nghiền ngẫm về ‘tiểu thiên địa’ theo cách tương tự:

·    Đạo giáo cho biết cơ thể con người có tam đan điền (thượng, trung, hạ) và ở mức cao hơn, con người là một ‘tam hợp’ Thần- Khí- Tinh. Huyền bí học phương Tây thì cho rằng con người có Spirit- Soul- Body, tức là Tinh thần- Linh hồn- Thể xác.

·    Ta có thể nhận định rằng Thần ứng với Thiên, Hồn/ Khí ứng với Nhân, Xác/ Tinh ứng với Địa.

Và đương nhiên, xã hội loài người không tĩnh, mà là một hệ vận động có sự tương tác không ngừng nghỉ. Một ví dụ về sự tương tác của các nhóm người thuộc Thiên đạo, Nhân đạo, Địa đạo trong đời sống như sau:

·    Trong thời phong kiến cổ đại, ta có thể bắt gặp sự tổ chức với ba nhóm người: một vị vua/ lãnh chúa ứng Thiên; nhóm quân sư ứng với Nhân; nhóm quan viên thực thi ứng với Địa.

·    Nhóm quan viên thực thi (Địa) thường thì không tranh luận hay khuyên bảo nhóm vua chúa (Thiên), chỉ tìm cách thực hiện công việc sao cho hiệu quả, sau khi quyết định đã được ban ra.

·    Trong khi đó, nhóm quân sư (Nhân) thường đóng vai trò là ‘túi khôn’ cho nhóm vua chúa. Nhóm vua chúa khi cần lựa chọn để đưa ra quyết định thì sẽ hỏi nhóm quân sư. Nhóm quân sư sẽ cân nhắc các khía cạnh của vấn đề, các mối quan hệ lợi hại, tốt xấu, đúng sai, ngắn hạn dài hạn… để đưa ra lời khuyên. Điều này có thể ảnh hưởng đến quyết định được đưa ra.

·    Thông thường thì nhóm quân sư là những người khôn ngoan, vua chúa chịu nghe lời khuyên của họ thì mọi thứ thường tốt đẹp. Trong nhiều trường hợp, những nhà thông thái trở thành thầy giáo của vị vua (ví dụ Aristotle), rất được tôn trọng và tham vấn. Nhưng do sự khác biệt về tư duy chủ đạo, nhóm vua chúa và nhóm quân sư lại thường xuyên vênh nhau về tầm nhìn và ưu tiên. Trong rất nhiều trường hợp, cả lịch sử lẫn văn chương, những lời phân tích hợp lý của nhóm quân sư ảnh hưởng đến mục đích cá nhân hay đụng chạm đến cái tôi của vua chúa. Kết quả thường là xấu cho nhóm quân sư trong trường hợp này; nhưng đồng thời, các vua chúa không nghe lời khuyên đúng cũng rất thường chịu hậu quả về lâu dài.

·    Trong thực tế lịch sử, con người nhận thấy rằng nếu quyền lực quá tập trung mà thiếu kiềm chế, nó dễ dàng bị lạm dụng; từ đó phát sinh ra nhu cầu phân chia và kiểm soát quyền lực. Đó là một trong những động lực dẫn đến các nền cộng hòa và thiết chế dân chủ ngày nay. Hay nói cách khác: dùng Nhân để điều hòa Thiên và chỉ đường cho Địa.

Khi quan sát cuộc sống như vậy, ta có thể thấy rằng các nguyên lý tư duy không thể đứng đơn độc, chúng phụ thuộc và bổ sung cho nhau, trong bản thân mỗi người cũng như trên quy mô xã hội:

·    Thiên cho mục tiêu và định hướng, nhưng Thiên thiếu Nhân dễ thành chuyên quyền bạo ngược...

·    Nhân cho sự điều hòa và minh triết, nhưng Nhân mà không có Thiên dễ thiếu mục tiêu, thiếu Địa thì hành động thiếu hiệu quả...

·    Địa cho sự sáng tạo và khả năng thực hiện, nhưng Địa mà thiếu Nhân dễ thành kỹ trị vô hồn...

Như vậy, khi đã hiểu về cấu trúc tư duy, ta có thể hiểu con người và xã hội con người dưới một góc nhìn sâu sắc và có tính nguyên nhân hơn. Và với hiểu biết đúng đắn, thì con người có thể cải tạo xã hội trở nên tốt hơn. Ví dụ như:

·    Trong đời sống cá nhân, mỗi con người đều cần có mục đích, ý nghĩa sống (Thiên), có các mối quan hệ, tư tưởng, đạo đức (Nhân), có đời sống vật chất phong phú và hoạt động đa dạng (Địa). Sự thiếu hụt một khía cạnh đều gây ra những khó khăn nhất định cho cuộc sống. Ví dụ như một người sống giản dị đạo đức, được tôn trọng, nhưng ray rứt vì không đủ tiền lo cho con ăn học hay chạy chữa trong lúc bệnh tật. Một người khác giàu có, thành công, nhưng đến cuối đời cảm thấy trống rỗng, nhìn cuộc đời như một giấc mộng vô nghĩa, không có mục đích. Hay một người quyền lực, thành công, nhưng đánh đổi bằng cuộc sống gia đình bất hạnh, tuổi già hối hận vì bị chửi mắng, không có người thân bên cạnh… Như vậy, một đời sống lý tưởng có lẽ là khi con người cân bằng cả 3 khía cạnh Ý chí, Tình thương và Trí tuệ; và tìm thấy sự mãn nguyện trong Mục đích sống, Quan hệ con người, và Đời sống thực tiễn.

·    Trong cuộc sống gia đình, ta có những cá thể độc lập (Thiên), với những mối quan hệ vợ-chồng, cha-mẹ-con, anh-chị-em… (Nhân), và một nền tảng vật chất và sinh hoạt đa dạng (Địa). Tương tự như đời sống cá nhân, sự thiếu hụt ở một lĩnh vực sẽ có thể gây mất cân bằng. Một gia đình thiếu hụt thành viên (Thiên), sự xung đột trong các mối quan hệ gia đình (Nhân), hay sự nghèo khó (Địa) đều là những vấn đề lớn ảnh hưởng tới một gia đình. Một gia đình lý tưởng hướng tới sự trọn vẹn ở cả 3 khía cạnh này.

·    Khi suy ngẫm về giáo dục, ta sẽ thấy một sự mất cân đối đáng kể. Giáo dục ngày nay chú trọng quá nhiều vào kiến thức vật chất (Địa), so với mục đích, ý nghĩa sống (Thiên), và các mối quan hệ đời sống, tư tưởng, đạo đức (Nhân). Sự mất cân đối này có lẽ bắt nguồn từ sự sai lệch trong mục đích và ý nghĩa của giáo dục (Thiên), lẫn sự thiếu chú ý về việc hình thành nhân cách và các mối quan hệ của con người (Nhân). Như đã nói, con người không chỉ cần một công việc kiếm tiền (Địa), mà còn có nhu cầu về sự hài hòa trong các mối quan hệ (Nhân) và mục đích, lý tưởng sống (Thiên). Nền giáo dục trong tương lai có lẽ cần xem xét để cân bằng hơn, giúp con người định hướng một cuộc sống trọn vẹn chứ không chỉ quan tâm đến vật chất như hiện tại.

·    Trong tổ chức xã hội, người ta cần nhớ con người chính là nền tảng và trung tâm. Dưới góc nhìn Tam đạo, mỗi một con người đều có những nhu cầu cơ bản: nhu cầu tự chủ về thân thể và lý tưởng (Thiên), nhu cầu tự do tư tưởng và lựa chọn (Nhân), và nhu cầu hoạt động sáng tạo đa dạng (Địa). Những nhu cầu này cần phải được hiểu và tôn trọng vì nó thuộc về bản chất của con người, và khi chúng bị xâm phạm thì sẽ gây ra xung đột và rạn nứt từ bên trong xã hội. Khi hiểu rõ những nhu cầu cơ bản này, con người có thể kiến tạo những thiết chế xã hội hợp lý, đảm bảo về quyền con người (phát sinh từ nhu cầu), từ đó tạo ra một xã hội nhân văn và bền vững.

Đó là một vài ví dụ cho thấy Tam đạo có thể được dùng như một lăng kính để xem xét và điều chỉnh sự thiên lệch trong cuộc sống. Vì là một cấu trúc nền, Tam đạo có thể được ứng dụng trong vô số lĩnh vực khác nhau của đời sống: tổ chức, kinh doanh, chính trị, xã hội, gia đình, khoa học kỹ thuật… Khả năng ứng dụng của Tam đạo có thể phong phú như chính xã hội loài người, vì nó gắn với những tư tưởng nền tảng nhất của con người mà từ đó sự đa dạng đã bắt đầu!

·    Chẳng hạn một trong những vấn đề đáng chú ý nhất hiện nay là sự phát triển của Trí tuệ nhân tạo (AI). Song song với những kỳ vọng về nó, nhiều người lo ngại rằng AI có thể mang đến sự hủy diệt theo nhiều cách, ví dụ như một xã hội toàn trị được hỗ trợ bởi AI, hay thậm chí là một phản địa đàng mà trong đó AI thống trị thay vì phục vụ loài người. Dưới ánh sáng của Tam đạo, các vấn đề này có thể được xem là sự sai lệch khi công nghệ (Địa) quá mạnh mẽ nhưng được sử dụng sai mục đích (Thiên) và thiếu sự định hướng nhân văn của con người (Nhân). Hiểu được điều này, con người có thể phát triển và sử dụng AI như một động lực trí tuệ mạnh mẽ giúp cải tạo thế giới vật chất đúng với mục đích phục vụ con người.

 

 

PHẦN III - TỔNG KẾT

a) Về cấu trúc tam nguyên:

Các hình mẫu về Chúa ba Ngôi, ba vị Thần tối cao, và các nhóm tam nguyên mang nhiều ý nghĩa biểu tượng xuất hiện xuyên suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Đây là một chủ đề thú vị đã thu hút nhiều sự chú ý của các bộ óc triết học lớn trong hàng ngàn năm qua.

·    Từ cuối thế kỷ 19, H. P. Blavatsky đã gây ra tranh luận sôi nổi, với tuyên bố về một nguồn gốc Minh triết cổ xưa chung của thế giới và chỉ ra sự tương đồng trong các ý tưởng về ba Ngôi. Alice Bailey kế thừa và phát triển một hệ thống tâm lý học huyền môn đồ sộ rất đáng chú ý.

·    Tuy nhiên, cả hai đều dựa trên những nguồn mặc khải siêu hình, làm hạn chế sự tiếp cận của những người duy lý.

Mặc dù không thể chứng minh được vấn đề siêu hình và mặc khải thần bí, nhưng bài viết dường như đã tìm ra được một cấu trúc nền tảng chung, một khuôn mẫu nằm bên dưới của các tam nguyên. Đó là một cấu trúc ba bước phát sinh  

(1) Đơn nhất => (2) Phân cực => (3) Biểu lộ

phản ánh tư duy của con người về:

(1) Bản thể – (2) Quan hệ – (3) Hiện tượng

Đó là một khuôn mẫu về tư duy trong trí óc con người.

Một lượng lớn các tam nguyên được khảo sát cho thấy chúng phản ánh những hình chiếu khác nhau của cùng một cấu trúc nền, dù được biểu đạt bằng những ngôn ngữ hay những biểu tượng khác nhau!

·    Nói cách khác: có thể có một hình mẫu chung cho tất cả các tôn giáo và hệ tư tưởng trên toàn thế giới.

Hình mẫu này dường như phản ánh cách mà con người cố gắng hiểu thực tại một cách trọn vẹn:

·    Bản chất vấn đề này là gì?” => Bản thể.

·    Nó có những mối liên hệ gì?” => Quan hệ.

·    Nó biểu hiện ra như thế nào?” => Hiện tượng.

Liệu đây có phải là chìa khóa để giải mã bí ẩn này?

 

b) Về luận giải con người và xã hội:

Việc tìm ra cấu trúc nền đã dẫn đến tam nguyên tư duy (nhất nguyên, nhị nguyên, đa nguyên), hay Tam đạo. Điều này cho phép đào sâu vào chính tư duy của con người.

Ở góc độ cá nhân, người ta có thể tự quán chiếu để hiểu rõ tâm thức của chính mình, hiểu được từng đặc tính chủ đạo của bản thân. Khi hiểu được các đặc tính của bản thân, người ta có thể suy ngẫm về các cơ duyên và lựa chọn trong đời mình. 

·    Khi con người đã hiểu Đạo và tự hiểu mình, thì có thể tỉnh thức mà bước đi trên đường Đạo, thay vì bị dòng đời cuốn đi một cách vô thức. “Hãy tự hiểu mình” chính là một chìa khóa để mở ra cánh cửa đạo.

Ở góc độ vĩ mô, cấu trúc tư duy là nền tảng của toàn bộ nền văn minh nhân loại. Hiểu về nó cho phép ta nghiên cứu về các nền văn minh và các tiến trình lịch sử, như là những hệ quả của cấu trúc tư duy! 

Và đây là một minh họa cho mô hình Tam đạo:

Bài viết này chỉ mới phác họa một số ví dụ trong việc sử dụng cấu trúc tam nguyên nền để đọc hiểu và cải thiện thế giới con người. Đó là một lĩnh vực rất rộng lớn, vẫn còn chờ được nghiên cứu và khám phá thêm.

·    Và biết đâu, khi hiểu rõ tất cả những điều này, con người sẽ có thể kiến tạo được một kỷ nguyên mới của hòa bình và hạnh phúc?

 

c) Câu hỏi lớn về thực tại:

Như vậy, bài viết cho thấy một cấu trúc nền chung có thể được dùng để diễn giải cả thực tại, xã hội lẫn tư duy con người. Cấu trúc Bản thể - Quan hệ - Hiện tượng này dường như là những suy niệm cốt lõi nhất khi tư duy con người cố gắng chạm đến thực tại.

Điều cuối cùng mà bài viết vẫn còn băn khoăn, đó là:

Liệu tư duy của con người đã cấu trúc hóa thực tại, hay chính thực tại đã in dấu trong tư duy của con người?

- Đó là câu hỏi.

 

No comments:

Post a Comment

Bấm để xem tiếng Việt/ tiếng Anh HEAVEN– EARTH– HUMAN:  THE THREEFOLD DAO Tran The Hiep. Email: tranthehiep@pr...